sứ vụ
Thứ Hai, 28 tháng 10, 2013
Suối trường sinh
Suối Trường Sinh
Miya Jima nước Nhật Bản xưa kia là một hòn đảo nổi tiếng linh thiêng. Dân ở đảo này hầu như không ai có quyền chết.
Đảo này là một trong ba thắng cảnh đẹp nhất xứ Phù Tang. Toàn đảo có một ngôi đền danh tiếng ở ngay trên bờ biển. Cửa chính của đền hướng ra biển. Những lối đi trong đền dựng không biết bao nhiêu những cây đèn bằng đá, liên tiếp từ cửa này đến cửa khác. Nơi đây có những con nai đi lại nhởn nhơ không chút sợ sệt sự qua lại của những người mộ đạo. Không khí rất trong lành, biện một màu xanh biếc. Bên kia eo biển, xa xa hiện lên những dãy núi tim tím, những cánh buồm rơm vuông vắng của những chiếc thuyền đánh cá phản chiếu ánh sáng mặt trời, trông như những đám lửa nhỏ nổi lên mặt nước.
Trong số dân cư ngụ tại đảo nầy có hai vợ chồng người tiều phu già, hết sức già. Chồng là Yoshida, vợ là Fumi. Họ được cả làng yêu mến vị nể. Ai nấy đều khen sự kiên nhẫn chịu đựng mọi sự mà họ đã trải qua, và ca tụng sự trung thành của hai người đối với nhau trên sáu mươi năm chung sống.
Họ không quen nhau mấy, hồi mà cha mẹ họ quyết định sự hôn nhân. Yoshida chưa bao giờ dám nói chuyện với Fumi, nhưng khi gặp nhau trên bãi biển thì chàng cứ nhìn nàng bằng cặp mắt trìu mến và cứ nhìn theo nàng mãi. Nàng đi thong thả, hơi cúi về phía trước(đó là lối đi của những thiếu nữ có giáo dục). Những ngày hội, chàng thích tìm nàng trong đám đông để thấy khuôn mặt trái soan của nàng, có cặp má đào đỏ hây, cái áo dài màu ngọc trai xám có thắt ngang một cái thắt lưng lớn, gấu áo viền bằng lụa nâu có thêu những bông cúc trắng.
Fumi cũng không khao khát ngày cưới lắm, vì nàng biết đời nàng đã được định đoạt rồi, và mấy tháng trước ngày cử hành hôn lễ, nàng đội cái mũ "mũ cưới" tượng trưng cho người con gái sắp thành hôn. Bản tính Fumi dịu dàng, mà nàng vẫn sợ trước những sự nghiêm khắc, những sự bất hòa có thể xảy ra giữa vợ chồng. Nàng nghĩ đến câu phương ngôn: "Lòng người đàn ông dễ thay đổi như trời thu". Nhưng nàng sẽ nhất định giữ được tình yêu của chồng bằng sự kiên nhẫn, dịu dàng và sự âu yếm kín đáo của nàng. Nàng có biết câu phương ngôn: "Nếu người ta ngồi ba năm trên một tản đá đó cũng sẽ nóng..."
Cuộc hôn nhân của Yoshida và Fumi đã được cha mẹ định đoạt đúng luật lệ cổ truyền, nên được vui vẻ và tồn tại giữa hai vợ chồng. Ngay từ buổi đầu, Yoshida yêu Fumi với tất cả mối tình nồng thắm của tuổi trẻ và Fumi đền đáp lại bằng sự yêu kính chồng rất mực.
Họ được hưởng những lúc vui sướng cũng như những hồi buồn bã. Vui, là họ sinh liên tiếp ba trai. Rất buồn là ba con lúc đã trưởng thành lại bị chết một ngày vì nghề đánh cá. Một hôm ra khơi, biển đã cướp mất cả ba người con. Yoshida và Fumi trong lòng tan nát, cố chịu đựng trước bạn bè, gượng cười ra vẻ thản nhiên. Nhưng khi chỉ có riêng họ, họ khóc sướt mướt. Tay áo họ luôn luôn đẫm lệ đau thương. Họ đặt bài vị ba con trên một cái bàn nhỏ bằng gỗ quý, tại một căn phòng đẹp nhất để ngày đêm tưởng niệm. Mỗi ngày trước bữa ăn, họ đặt thức ăn lên một cái bàn bằng gỗ sơn, đốt hương để khấn các con về thụ hưởng. Những lúc đó họ ngồi hàng giờ để nghĩ tới những người con đã mất.
Bây giờ chỉ còn có hai vợ chồng, họ lấy sự kính yêu nhau làm nguồn an ủi duy nhất. Mỗi người đều muốn làm cho người kia bớt đau khổ, họ tìm đến cách âu yếm lẫn nhau. Dần dần tâm hồn họ bình thản trở lại, và họ trở nên kiên nhẫn. Họ lấy câu tục ngữ sau đây để tự an ủi: "Khi hoa anh đào đã tàn, không phải lấy sự tiếc thương mà làm cho hoa anh đào nở được"
Giờ đây họ đã già lắm, già như những con đồi mồi cổ kính. Yoshida thì nhăn nheo, khô héo, chân tay run rẩy, Fumi thì tóc và lông mày đã rụng nhẵn.
Người ta gặp họ đi chơi với nhau, bước chân chập chạp, vợ đi sau chồng một chút (vì tập tục như vậy) Thỉnh thoảng đôi cvợ chồng già này đi đến tận ngôi đền nguy nga làm cho hòn đảo nổi tiếng khắùp nước.
Ở nhà, dù Fumi đã nhiều tuổi, vẫn cố gắng giữ gìn nhà cửa được sạch sẽ, xinh xắn. Bà ưa màu trắng của bức tường bằng giấy và ánh sáng của chiếc chiếu mới với một ý nghĩ rất tế nhị hòa hợp tình cảm, bà thường thay đổi sự trang trí tùy theo thời tiết, tùy theo từng mùa hoặc tùy theo màu sắc của từng ngày, tùy theo nỗi buồn trong tâm tưởng khi treo những bức tranh lụa trên tường, một trong cái bình bằng đồng bà cắm ba cành hoa rất khéo léo mỹ thuật.
Đôi khi cạnh lọ hoa, bà đặt hai pho tượng nhỏ, tượng trưng cho hai ông bà già đang quét là thông. Đó là tiêu biểu tình nghĩa vợ chồng những cặp vợ chồng già được ví như hai cây thông đã mật thiếc mọc liền thân với nhau đến nỗi trông như một và cùng già bên nhau.
Cũng có khi Fumi đặt trên bàn một pho tượng sơn, tượng một vị thần mà bà thích nhất, một vị thần rất ngộ nghĩnh, có bộ râu dài, đội một cái mũ kỳ lạ, tay cầm một cái gậy, còn tay kia cầm một quyển kinh, đó là một trong bảy vị thần linh, mà là vị thần tượng trưng cho hạnh phúc của tuổi già.
Yoshida và Fumi kể là đôi vợ chồng già sung sướng, biết gác ra ngoài những nỗi khổ cực của loài người để hưởng sự yên tĩnh và thương yêu lẫn nhau.
Nhưng dù sao họ vẫn có một mối sầu vương vấn. Bây giờ họ đã quá già, lòng luyến tiếc thời trẻ trung xưa kia đã quá xa. Người nào cũng nghĩ rằng: Khi mà một trong hai người chết đi, người còn sống sẽ đau khổ biết chừng nào, cô đơn biết chừng nào! Giá bây giờ họ còn trẻ cả hai, họ sẽ hưởng được một cuộc sống lâu dài bên nhau. Đời sống họ sẽ trở nên thơ mộng biết bao, êm đềm biết bao!...
Một buổi thu, trời trong sqng, Yoshida như có một cảm hứng huyền bí gì, đi về phía rừng một mình. Nơi đây, trước kia ông đã làm nghề đốn củi rất cần cù, bây giờ trước khi chết muốn nhìn lại cây cối mà ông đã sống gần suốt đời.
Nhưng khi đến nơi, ông không còn nhận ra phong cảnh xa xưa kia nữa. Ngay cửa rừng ông không còn thấy cây Phong to lớn lá đỏ của mùa thu, nổi bật giữa đám lá thông xanh thẫm. Ông không nhận thấy cả cái suối nước trong, trong một cách lạ lùng, màu xanh lơ...
Sau khi đã ngồi, ông thấy khát nước, thấy có một núi trong xanh ngay cạnh lối đi. Với hai lòng bàn tay, ông bốc nước lên, uống thông thả...
Nào ngờ? Khi nhìn bóng mình trong suối nước, ông thấy thay đổi hết: Tóc đã trở nên đen nhánh, mặt hết nhăn nheo, trong người các bắp thịt có một sức mạnh đang vươn lên. Yoshida đã trẻ lại như người mới hai mươi tuổi, ông đã vô tình được nước suối "trường sinh".
Khỏe mạnh, tươi vui, đầy nhựa sống, ông già Yoshida bây giờ là một chàng thanh niên trẻ trung yêu đời. Anh ta sung sướng chạy về nhà.
Bà già Fumi trông thấy một thanh niên đẹp trai đi vào nhà. Bà thốt lên một tiếng: "Ồ" rồi từ ngạc nhiên đến sợ hãi, làm bà chết đứng như người mất trí.
Yoshida vội an ủi vợ và giải thích rõ ràng sự may mắn vừa đến với anh.
Bây giờ đến lượt bà lão đáng thương vừa cười vừa khóc vì sung sướng. Sáng mai bà cũng sẽ ra cái "suối tiên" đó. Uống nước rồi, khi về, bà cũng sẽ trẻ lại như một thiếu nữ hai mươi.
Hai vợ chồng sẽ lại sống cuộc đời tươi đẹp, với bao sự vui thú của tuổi trẻ và sẽ hài lòng khi nghĩ đến những kỷ niệm đã qua.
Sáng hôm sau khi nắng hồng mới hé, sau làn không khí trong trẻo. Fumi vội vàng đi ra cái suối nước trong... Yoshida ở nhà, anh ta đợi, không có gì sốt ruột. Anh biết rằng phải mất độ hai giờ cho một người già để đi đến suối, và lúc về sẽ mau hơn.
Vậy mà đã hơn hai giờ, Fumi vẫn chưa về. Yoshida ngạc nhiên: Từ suối về có bao xa, mà sao lâu đến thế? Rồi những giờ phút trôi qua, sự sốt ruột của anh càng lúc lại càng tăng.
Thời giờ cứ tiếp tục trôi đi một cách tàn nhẫn, chậm chạp. Đã ba giờ qua, bốn giờ qua, năm giờ qua... Sự gì đã xảy ra?
Yoshida không còn kiên nhẫn hơn được nữa, vì sự sợ hãi cứ tăng dần lên. Anh đóng cửa lại rồi chạy ra rừng.
Anh chạy vội đến chỗ "suối tiên". Anh nghe thấy nước chảy hòa lẫn tiếng lá reo trên cành. Chú ý im lặng tìm kiếm một vùng rộng, mà vẫn không thấy vợ đâu, anh bắt đầu thất vọng.
Bỗng một tiếng kêu, một tiếng rên, có lẽ một con vật bị thương... làm cho anh chú y.
Yodhida đã đến gần bờ suối... Khi đến tận bờ, anh đứng lại, ngạc nhiên trông thấy giữa đám cỏ cao, có một bé con... một đứa bé gái độ chừng vài tháng, chưa biết nói, chỉ giơ tay về phía anh với vẻ thất vọng...
Yoshida bế đứa bé lên. Nhìn vào mắt đứa bé, cặp mắt lạ lùng! Cặp mắt đó làm cho anh nghĩ đến những kỷ niệm xa xôi của đời anh. Sao lại có cặp mắt giống hệt cặp mắt vợ anh một cách lạ lùng đến thế? Anh đã nhận được cặp mắt của người vợ anh: Khóc khi anh buồn, cười khi anh vui. Lòng anh xúc cảm mạnh.
Rồi đột nhiên anh hiểu được tất: À, ra chính đứa bé này là vợ anh, là bà vợ già của anh, là Fumi đáng thương đã trẻ lại. Và đã trẻ quá, vì nó muốn trẻ lại hơn chồng, nên đã uống quá độ, nên đã biến thành một đứa hài nhi...
Yoshida thở dài, bồng đứa nhỏ lên và mang nó sau lưng, như bà mẹ thường địu con... Anh buồn bã trở về, nghĩ rằng, từ đây anh sẽ phải như một người cha săn sóc và nuôi dưỡng dạy bảo đứa bé mà trước đây là vợ mình: Người bạn trung thành của anh trên đường đời.
Chủ Nhật, 27 tháng 10, 2013
Bạn có cảm thấy cô đơn?
Chúng ta đều tự hỏi rằng: "Mục đích của cuộc đời là gì?" Tôi có nên làm giống như thế hệ của ông bà tôi ngày xưa là trong suốt bốn mươi năm làm việc, họ luôn làm cho một công ty, sống trong một chỗ duy nhất, kết hôn với một người và đi cùng một nhà thờ? Liệu đây có phải là bí quyết của sự thỏa lòng không?
Mọi người thường nói rằng chúng ta nên hướng tới sự thành công trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Nhưng nếu chỉ đạt được mục tiêu của chúng ta trong một số lĩnh vực cũng không luôn đem lại sự thỏa lòng. Thật ra, sự thành công như thế không thật sự lấp đầy khoảng trống trong chúng ta.
Chuyện gì sẽ xảy ra nếu tôi hi sinh, làm việc chăm chỉ và cố leo lên nấc thang của sự thành công để chỉ nhận ra rằng tôi không thật sự thỏa lòng hay hạnh phúc? Chuyện gì sẽ xảy ra nếu tôi leo lên một đỉnh núi sai? Tôi sẽ phải bày tỏ điều gì trong cuộc sống mình vào lúc tận chung của cuộc đời mình khi tôi đứng trước mặt Đức Chúa Trời? Kinh thánh đã nói rằng: "Nếu ai được cả thiên hạ mà chính mình phải bị mất hoặc hư đi, thì có ích gì?"
Bạn thấy đó, chúng ta được tạo dựng nên theo ảnh tượng của Đức Chúa Trời. Chúng ta có thể bỏ qua ảnh tượng đó. Chúng ta có thể phủ nhận và đem lại sự hổ thẹn cho hình ảnh của Đức Chúa Trời trong chúng ta. Tuy nhiên, chúng ta sẽ không thể xóa bỏ được hình ảnh của Đức Chúa Trời trong tấm lòng mình. Chính ảnh tượng của Chúa trong lòng chúng ta khiến chúng ta khao khát có một mối tương giao với Đấng tạo hóa. Sự thật là khi vẫn chưa hòa thuận lại với Đức Chúa Trời, chúng ta vẫn sẽ còn cảm thấy trống rỗng và không thỏa lòng.
Thế thì, làm thế nào bạn có thể trở lại hòa thuận với Đức Chúa Trời và tìm ra được mục đích chân thật? Câu trả lời ấy là bạn phải khám phá ra Chúa Giêsu. Con Trời là người bạn thực thụ của bạn và chúng ta phải vâng theo lời dạy của Ngài.
Tôi muốn giải thích rõ hơn ở đây...
Đức Chúa Trời là Đấng toàn hảo và trong Ngài, không có tội lỗi. Nếu không, Ngài sẽ không phải là Đức Chúa Trời. Chúng ta thảy đều không có sự toàn hảo của Chúa do cố ý không vâng lời và điều này được gọi là tội lỗi. Kinh thánh cho biết hình phạt của tội lỗi là sự chết. Nhưng chúng ta không thể trả món nợ đó vì làm sao chúng ta có được mối tương giao với Chúa nếu chúng ta chết mất? Vì vậy, Đức Chúa Trời đã bảy tỏ tình yêu thương của Ngài cho chúng ta qua việc Chúa Giêsu, Con Một của Đức Chúa Trời đã chết và trả thay món nợ tội lỗi của chúng ta khi chúng ta còn là người có tội. Nếu chúng ta tiếp nhận món quà của sự sống thì chúng ta cần dâng tấm lòng, trí óc và thể lực của chúng ta cho Chúa Giêsu và sống theo chuẩn mực của Ngài.
Đức Chúa Trời có một mục đích cho cuộc đời của bạn. Ngài muốn bạn thành công và hạnh phúc. Nhưng thành công và hạnh phúc không thể được tìm thấy qua việc bạn làm theo ý riêng mà làm theo những điều Đức Chúa Trời muốn bạn làm. Ngài có thể làm vượt trổi hơn vô cùng những điều chúng ta cầu xin hay suy tưởng, tùy theo quyền năng của Ngài.
Bước đầu tiên trong việc tìm kiếm mục đích của Đức Chúa Trời dành cho bạn là ăn năn tội lỗi trước mặt Ngài và cầu xin Chúa Giêsu làm chủ cuộc đời bạn.
Chúng ta đều tự hỏi rằng: "Mục đích của cuộc đời là gì?" Tôi có nên làm giống như thế hệ của ông bà tôi ngày xưa là trong suốt bốn mươi năm làm việc, họ luôn làm cho một công ty, sống trong một chỗ duy nhất, kết hôn với một người và đi cùng một nhà thờ? Liệu đây có phải là bí quyết của sự thỏa lòng không?
Mọi người thường nói rằng chúng ta nên hướng tới sự thành công trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Nhưng nếu chỉ đạt được mục tiêu của chúng ta trong một số lĩnh vực cũng không luôn đem lại sự thỏa lòng. Thật ra, sự thành công như thế không thật sự lấp đầy khoảng trống trong chúng ta.
Chuyện gì sẽ xảy ra nếu tôi hi sinh, làm việc chăm chỉ và cố leo lên nấc thang của sự thành công để chỉ nhận ra rằng tôi không thật sự thỏa lòng hay hạnh phúc? Chuyện gì sẽ xảy ra nếu tôi leo lên một đỉnh núi sai? Tôi sẽ phải bày tỏ điều gì trong cuộc sống mình vào lúc tận chung của cuộc đời mình khi tôi đứng trước mặt Đức Chúa Trời? Kinh thánh đã nói rằng: "Nếu ai được cả thiên hạ mà chính mình phải bị mất hoặc hư đi, thì có ích gì?"
Bạn thấy đó, chúng ta được tạo dựng nên theo ảnh tượng của Đức Chúa Trời. Chúng ta có thể bỏ qua ảnh tượng đó. Chúng ta có thể phủ nhận và đem lại sự hổ thẹn cho hình ảnh của Đức Chúa Trời trong chúng ta. Tuy nhiên, chúng ta sẽ không thể xóa bỏ được hình ảnh của Đức Chúa Trời trong tấm lòng mình. Chính ảnh tượng của Chúa trong lòng chúng ta khiến chúng ta khao khát có một mối tương giao với Đấng tạo hóa. Sự thật là khi vẫn chưa hòa thuận lại với Đức Chúa Trời, chúng ta vẫn sẽ còn cảm thấy trống rỗng và không thỏa lòng.
Thế thì, làm thế nào bạn có thể trở lại hòa thuận với Đức Chúa Trời và tìm ra được mục đích chân thật? Câu trả lời ấy là bạn phải khám phá ra Chúa Giêsu. Con Trời là người bạn thực thụ của bạn và chúng ta phải vâng theo lời dạy của Ngài.
Tôi muốn giải thích rõ hơn ở đây...
Đức Chúa Trời là Đấng toàn hảo và trong Ngài, không có tội lỗi. Nếu không, Ngài sẽ không phải là Đức Chúa Trời. Chúng ta thảy đều không có sự toàn hảo của Chúa do cố ý không vâng lời và điều này được gọi là tội lỗi. Kinh thánh cho biết hình phạt của tội lỗi là sự chết. Nhưng chúng ta không thể trả món nợ đó vì làm sao chúng ta có được mối tương giao với Chúa nếu chúng ta chết mất? Vì vậy, Đức Chúa Trời đã bảy tỏ tình yêu thương của Ngài cho chúng ta qua việc Chúa Giêsu, Con Một của Đức Chúa Trời đã chết và trả thay món nợ tội lỗi của chúng ta khi chúng ta còn là người có tội. Nếu chúng ta tiếp nhận món quà của sự sống thì chúng ta cần dâng tấm lòng, trí óc và thể lực của chúng ta cho Chúa Giêsu và sống theo chuẩn mực của Ngài.
Đức Chúa Trời có một mục đích cho cuộc đời của bạn. Ngài muốn bạn thành công và hạnh phúc. Nhưng thành công và hạnh phúc không thể được tìm thấy qua việc bạn làm theo ý riêng mà làm theo những điều Đức Chúa Trời muốn bạn làm. Ngài có thể làm vượt trổi hơn vô cùng những điều chúng ta cầu xin hay suy tưởng, tùy theo quyền năng của Ngài.
Bước đầu tiên trong việc tìm kiếm mục đích của Đức Chúa Trời dành cho bạn là ăn năn tội lỗi trước mặt Ngài và cầu xin Chúa Giêsu làm chủ cuộc đời bạn.
Ý nghĩa của đời sống
Làm sao tôi có thể tìm được mục đích và sự thỏa mãn hoàn toàn cho đời sống? Tôi sẽ có khả năng làm được những điều chính yếu lâu dài? Có nhiều người không bao giờ dừng lại xem xét ý nghĩa của đời sống là gì. Những năm sau họ nhìn lại và tự hỏi tại sao những mối liên hệ có phần tan vỡ và tại sao họ cảm thấy trống vắng mặc dầu họ đã đạt được những thành công do họ đặt ra.Trong xã hội nhân văn của chúng ta, con người theo đuổi nhiều mục đích, họ suy nghĩ sẽ tìm thấy ý nghĩa. Những mục tiêu họ theo đuổi gồm có: Sự thành công trên thương trường, sự giàu có, nhiều mối liên hệ tốt, tình dục, giải trí, làm điều lành cho người khác.v.v… Người ta đã chứng nhận rằng trong lúc họ thành đạt những mục tiêu của sự giàu có, vui chơi, và hài lòng vẫn có những khoảng sâu trống vắng trong tâm hồn – một cảm giác trống trãi mà dường như không thể lấp đầy được.
Tác giả của sách Truyền đạo đã nói về cảm giác này khi ông nói: “Hư không! Hư không! Hư không của sự hư không thảy đều hư không” Tác giả này giàu có không thể đo lường được, khôn ngoan hơn bất kỳ ai trong thời ấy cũng như thời nay, có hàng trăm bà vợ, những lâu đài và vườn tược làm cho cả vương quốc ghen tỵ, thức ăn và rượu uống ngon nhất và có rất nhiều hình thức vui chơi sung sướng. Ông ấy đã nói tại thời điểm mọi điều ông ước muốn và theo đuổi, tuy nhiên ông đã kết luận “ Đời sống dưới mặt trời” (Cuộc đời mà tất cả mọi điều thấy được bằng mắt hay từng trãi bằng tình cãm) là hư không. Tại sao đó là trống rỗng? Bởi vì Đức Chúa Trời tạo nên chúng ta vì những điều vượt xa hơn những kinh nghiệm chúng ta có hiện hôm nay. Sa-lô-môn đã nói về Đức Chúa Trời: “Ngài cũng đã đặt sự trường tồn bất diệt trong những tấm lòng con người.” Trong lòng chúng ta được nhắc nhở rằng những gì hôm nay và ở đây tất cả sẽ không còn tồn tại.
Trong sách Sáng-thế-ký, sách đầu tiên của Kinh Thánh, chúng ta tìm thấy Đức Chúa Trời tạo nên con người giống như hình ảnh của Ngài (Sáng thế ký 1:26) Điều này có nghĩa là chúng ta giống Đức Chúa Trời nhiều hơn là bất cứ hình thức sống nào khác. Chúng ta cũng thấy trước khi loài người sa ngã vào tội lỗi và sự rủa sả đến trên thế gian, những điều sau đây là sự thật: (1) Đức Chúa Trời tạo nên con người là sinh vật xã hội. (Sáng thế ký 2:18-25) (2) Đức Chúa Trời cho con người việc làm (Sáng thế ký 2:15) Đức Chúa Trời giao thông với con người (Sáng thế ký 3:8) và (4) Đức Chúa Trời cho con người quyền cai trị trái đất (Sáng thế ký 1:26) Điểm chính yếu trong các chủ đề này là gì? Tôi tin rằng Đức Chúa Trời có ý định thêm tất cả những điều này để làm ứng nghiệm cho chúng ta. Nhưng tất cả những điều này (Đặc biệt là mối giao thông của con người với Đức Chúa Trời) đã vì sự sa ngã vào tội lỗi của loài người và sự rủa sả trên trái đất thành bất lợi, không còn hiện thực. (Sáng thế ký 3)
Trong sách Khải thị, sách cuối cùng của Kinh Thánh, tại điểm chấm dứt của tất cả những sự kiện thời tận thế, Đức Chúa Trời khải thị Ngài sẽ hủy diệt trời và đất hiện hữu như chúng ta biết hiện nay để khởi điểm tình trạng tạo ra trời mới đất mới vĩnh viễn. Vào thời điểm đó Ngài sẽ phục hồi đầy đủ mối giao thông với những người đã được cứu rỗi. Một số người bị phán xét là không xứng đáng bị quăng vào hồ lửa. (Khải thị 20:11-15) và sự rủa sả tội lỗi sẽ chấm dứt, tại nơi đó không còn có tội lỗi, buồn rầu, bệnh tật, sự chết hay đau đớn.v.v…(Khải thị 21: 4) những người tin Chúa sẽ thừa kế mọi thứ; Đức Chúa Trời sẽ ở với họ, và họ sẽ làm con của Ngài (Khải thị 21:7) Như vậy chúng ta đến điểm hoàn tất vòng tròn trong đó Đức Chúa Trời tạo dựng chúng ta để giao thông với Ngài; con người phạm tội phá vỡ mối giao thông đó; Đức Chúa Trời phục hồi mối giao thông trọn vẹn trong tình trạng vĩnh cửu với những người được cứu rỗi xứng hiệp với Ngài. Bây giờ xuyên qua cuộc đời con người thành đạt mọi thứ nhưng sự chết phân rẽ khỏi Đức Chúa Trời vĩnh viễn đó là điều duy nhất còn tệ hơn là không có gì cả. Nhưng Đức Chúa Trời làm một con đường không phải chỉ làm cho hạnh phúc đời đời (Lu-ca 23:43) nhưng cũng làm cho cuộc sống này thỏa vui và đầy ý nghĩa tốt đẹp.
CHỌN CHÚA TRONG MỌI CHI TIẾT CỦA ĐỜI TÔI
Trên nguyên tắc, đã là kitô hữu thì hầu như ai cũng đã chọn Chúa làm cùng đích của đời mình. Tuy nhiên cái nguyên tắc chung này khi được áp dụng cụ thể vào đời sống của từng người thì lại khác nhau rất nhiều: có người chọn Chúa một cách triệt để, có người chọn Chúa một cách nửa vời, còn có người chọn Chúa như một món trang trí ‘ cho có với thiên hạ”.
Thông thường, chọn Chúa trong những việc lớn thì tương đối dễ, vì khi ấy tôi chứng tỏ được lòng quảng đại, sự hy sinh, lòng can đảm… của mình. Khi chọn Chúa trong các việc lớn tôi dễ cảm thấy mình anh hùng! Ngược lại, chọn Chúa trong từng chi tiết vụn vặt của đời mình quả là một việc khó, bởi vì muốn làm được như thế thì tôi phải luôn luôn đặt mình về phía Chúa : từ ý nghĩ, lời nói, hành động tất cả phải qui chiếu về một mình Chúa mà thôi. Ấy thế mà tôi có rất nhiều điểm để qui chiếu đời tôi. Điểm qui chiếu đầu tiên chính là bản thân tôi; kế đó là các đối tượng, các mục đích mà tôi ưa thích. Lại nữa tôi không phải là một ẩn sĩ để có thể ở trong tĩnh mịch chỉ có một mình tôi với Chúa. Tôi phải liên tục giao tiếp với tất cả những sinh hoạt của môi trường chung quanh. Tôi không thể bỏ chúng, nhưng đồng thời tôi cũng không thể đặt chúng ngang hàng với Thiên Chúa. Để có thể dấn thân vào những sinh hoạt ấy mà không phản bội lại Thiên Chúa, tôi phải liên lĩ chọn Ngài trong từng giây phút, trong từng chi tiết nhỏ nhặt của đời tôi.
Muốn thực hiện được điều này, trước tiên tôi cần liên tục khẳng định lại sự lựa chọn căn bản của mình. Trước tiên tôi cần đặt trọn tư tưởng của tôi hướng về Chúa. Cần phải liên tục nhắc đi nhắc lại luôn để tạo ra một xác quyết là tôi phải hoàn toàn thuộc về Chúa. Từ bước ổn định tư tưởng này, các lời nói và việc làm của tôi sẽ được tư tưởng căn bản ấy chỉ đạo và điều khiển. Tư tưởng ổn định xác quyết thi lời nói và việc làm cũng sẽ ổn định, và nếu có bất ổn thì cũng dễ điều chỉnh sửa sai. Chúa ban cho tôi một món quà quý giá là tư tưởng. Vậy thì lễ vật đầu tiên và quý giá nhất mà tôi có thể dâng và phải dâng lên Thiên Chúa chính là tư tưởng của tôi. Một khi tư tưởng của tôi đã thuộc hẳn về Chúa, nó sẽ hướng dẫn trọn vẹn con người tôi về với Ngài.
Để có thể chọn Chúa trong từng chi tiết nhỏ nhặt của đời mình, tôi phải chọn Chúa ngay từ lãnh vực quan trọng nhất của cuộc đời: tư tưởng chính là lãnh vực quan trọng nhất ấy. Nếu tư tưởng của tôi chưa thuộc hẳn về Chúa, thì khi phải liên tục chọn Chúa trong những chuyên vụn vặt của đời mình, tôi sẽ gặp nhiều khó khăn lấn cấn vì cứ phải so đo cân nhắc luôn. Hơn nữa, một khi tư tưởng chưa thuộc hẳn về Chúa thì những chi tiết vụn vặt ấy dễ vuột khỏi sự kiểm soát của chính tôi để chạy tuột theo đà của chúng. Lúc bấy giờ tôi không còn là của Chúa, cũng không còn là của tôi, mà chỉ còn là nô lệ cho những thần tượng lợi thú nào đó của mình mà thôi.
Lạy Chúa xin cho tư tưởng con luôn luôn hướng trọn về Ngài . Amen
Nhân loại kiếm tìm
Đọc lại lịch sử loài người, ta phải công nhận rằng nhân loại luôn thao thức kiếm tìm một cái gì khả dĩ giải đáp được ý nghĩa cuộc sống. Tìm kiếm về cái nguyên thủy cũng như cánh chung của đời người.
Tại sao ta hiện diện trên trần gian? Bằng cách nào? Và rồi ta sẽ đi về đâu sau cái chết? Bao nhiêu bí mật, bao nhiêu huyền nhiệm bao trùm tâm trí. Và thế giới triết học cũng bởi thế phát sinh và triển nở ngay từ khởi thủy của nhân loại.
Người ta nhất định phải khám phá ra cho bằng được một cái nguyên tố siêu hình nào đó, đã hiện diện, đang vượt lên trên vạn vật và mãi mãi chi phối mọi biến chuyển của vũ trụ.
Tất nhiên, con người không chịu thỏa mãn với những hiểu biết thuộc về triết lý, nhưng còn đòi vươn lên, đòi hướng về một cái gì linh thiêng cao cả hơn, dẫu cho trí óc họ không khi nào thấu hiểu được. Để rồi, cái Siêu việt, cái Nhiệm mầu ấy đêm ngày ám ảnh lôi cuốn, gọi mời.
Đó là dấu vết của Tôn Giáo. Nó nằm sâu trong tâm khảm mỗi cá nhân. Tiềm ẩn nhưng bền chặt, vững vàng. Để rồi, người ta đã thấy quả không ngoa khi bảo rằng Tôn giáo cần cho loài người như mặt trời cần cho cây cỏ lá hoa.
Qua nhiều thế hệ, người ta thường tranh luận về đề tài “con gà có trước hay cái trứng có trước”. Biện luận nào xem chừng cũng có lý của nó. Nhưng rồi, dẫu cho trứng hay gà có trước, ai ai cũng phải nghiêm chỉnh mà chân nhận rằng cần có một bàn tay cao siêu nào đó tạo dựng nên trứng hay gà từ thuở đầu tiên.
Gần đây, người ta đua nhau đi học hỏi về thuyết tiến hóa. Họ dựa vào những chứng minh khoa học cho thấy các sinh vật, và cả con người nữa, xuất hiện trên mặt đất này đã từng cả triệu năm. Tất cả biến thay qua nhiều thế hệ.
Thế là họ lớn tiếng đả phá tôn giáo và kết án cái ý tưởng “tạo dựng từ bàn tay Thượng Đế”. Họ làm như thể các sinh vật đã phát sinh từ những hạt bụi vô tri giác bay lượn trong vũ trụ cũng tình cờ mà hiện hữu!
Thật ra, dẫu có muốn tin rằng tất cả đã đến từ những hạt bụi nhiệm mầu đó, người ta cũng phải hỏi cho ra làm sao có được những mầm sống mầu nhiệm ẩn tàng nơi hạt bụi. Trả lời “Tự nhiên mà có” thì khác nào không tìm được câu trả lời!
Thế là dẫu “hồ hởi” với giả thuyết “tiệm tiến đổi thay và phát triển” này cách mấy đi nữa, người ta cũng vẫn phải hiểu ngầm có một THƯỢNG TRÍ cao siêu nào đó, đã có trước và ở trên vạn vật.
Người vô thần, khi lần đầu phóng phi thuyền lên không gian, đã huênh hoang tuyên bố rằng dù đã lên tới chín tầng trời cũng chẳng gặp được bóng dáng Thượng Đế nào, nhưng quả thật họ đã để lộ cái chủ quan, ngu dốt của mình khi phải đề cập tới một Đấng Tạo Hóa siêu việt vô hình. Thượng Đế nào chỉ ngồi trên mấy tầng mây hay bơi lội trên đại dương ngàn dặm! Nhưng Thượng Đế nắm toàn thể vũ trụ trong lòng bàn tay.
Họ tố cáo tôn giáo là như thuốc phiện mê dân, nhưng rồi chính họ đã mê hoặc dân chúng khi đưa ra cái lý tưởng huyền hoặc xa vời. Thế là, thiếu tôn giáo, tất cả cuộc sống nhân loại như đi vào con lộ một chiều để dẫn vào chỗ bế tắc, cùng đường.
Tôn giáo, với ý niệm về một Đấng thiêng liêng cao cả, sẽ cho ta khả năng giải quyết được vô vàn thắc mắc. Sẽ giúp ta hiểu được nhiệm mầu diễn tiến hằng ngày trước mắt ta: Từ những diệu kỳ của trí óc, của con tim. Của những cảm xúc vui buồn yêu ghét. Của những động tác tinh vi nơi các bộ phận của cơ thể con người. Của những phản ứng lạ lùng do bản năng bẩm sinh nơi loài vật.
Tư tưởng về tôn giáo thường xâm chiếm hồn ta khi ngỡ ngàng trước cảnh núi đồi hùng vĩ hay sông hồ đại dương bát ngát. Tôn giáo cũng thôi thúc ta hướng lên một Vị Thiêng liêng cao cả khi ta ngồi nhìn hoàng hôn lúc chiều tà hay ngắm trăng lên giữa đêm khuya. Bởi vì khi ngây ngất trước những vẻ đẹp kỳ diệu đó của thiên nhiên, tâm tư ta thường hay tự hỏi: Đâu là nhà nghệ sĩ, nhà kiến trúc đại tài đến thế?
Rồi nữa, Thượng Đế cũng hiện diện trong hồn ta qua những phán quyết và cảm nghĩ của lương tâm. Những nẽo đi thầm kín đâu đó dẫn ta về một nền luân lý ẩn hiện và réo gọi đêm ngày. Này Trách nhiệm. Này Tự do. Mỗi ý niệm khơi lên bóng dáng của một HỒN THIÊNG tiềm tàng lúc nào cũng móc nối tương giao với một Đấng Thượng Đế Chí Tôn.
Ta ở đâu tới? Rồi ta sẽ về đâu? Từng câu hỏi mãi dằn vặt tâm tư cùng với cái ý nghĩ của một nền công lý tuyệt hảo, của chuyện thưởng phạt phân minh tối hậu. Lẽ nào chết lại là hết, là chấm dứt mọi sự! Và, bắt buộc phải có một chân lý đang chờ đợi cuối đường.
Đọc lại lịch sử loài người, ta phải công nhận rằng nhân loại luôn thao thức kiếm tìm một cái gì khả dĩ giải đáp được ý nghĩa cuộc sống. Tìm kiếm về cái nguyên thủy cũng như cánh chung của đời người.
Tại sao ta hiện diện trên trần gian? Bằng cách nào? Và rồi ta sẽ đi về đâu sau cái chết? Bao nhiêu bí mật, bao nhiêu huyền nhiệm bao trùm tâm trí. Và thế giới triết học cũng bởi thế phát sinh và triển nở ngay từ khởi thủy của nhân loại.
Người ta nhất định phải khám phá ra cho bằng được một cái nguyên tố siêu hình nào đó, đã hiện diện, đang vượt lên trên vạn vật và mãi mãi chi phối mọi biến chuyển của vũ trụ.
Tất nhiên, con người không chịu thỏa mãn với những hiểu biết thuộc về triết lý, nhưng còn đòi vươn lên, đòi hướng về một cái gì linh thiêng cao cả hơn, dẫu cho trí óc họ không khi nào thấu hiểu được. Để rồi, cái Siêu việt, cái Nhiệm mầu ấy đêm ngày ám ảnh lôi cuốn, gọi mời.
Đó là dấu vết của Tôn Giáo. Nó nằm sâu trong tâm khảm mỗi cá nhân. Tiềm ẩn nhưng bền chặt, vững vàng. Để rồi, người ta đã thấy quả không ngoa khi bảo rằng Tôn giáo cần cho loài người như mặt trời cần cho cây cỏ lá hoa.
Qua nhiều thế hệ, người ta thường tranh luận về đề tài “con gà có trước hay cái trứng có trước”. Biện luận nào xem chừng cũng có lý của nó. Nhưng rồi, dẫu cho trứng hay gà có trước, ai ai cũng phải nghiêm chỉnh mà chân nhận rằng cần có một bàn tay cao siêu nào đó tạo dựng nên trứng hay gà từ thuở đầu tiên.
Gần đây, người ta đua nhau đi học hỏi về thuyết tiến hóa. Họ dựa vào những chứng minh khoa học cho thấy các sinh vật, và cả con người nữa, xuất hiện trên mặt đất này đã từng cả triệu năm. Tất cả biến thay qua nhiều thế hệ.
Thế là họ lớn tiếng đả phá tôn giáo và kết án cái ý tưởng “tạo dựng từ bàn tay Thượng Đế”. Họ làm như thể các sinh vật đã phát sinh từ những hạt bụi vô tri giác bay lượn trong vũ trụ cũng tình cờ mà hiện hữu!
Thật ra, dẫu có muốn tin rằng tất cả đã đến từ những hạt bụi nhiệm mầu đó, người ta cũng phải hỏi cho ra làm sao có được những mầm sống mầu nhiệm ẩn tàng nơi hạt bụi. Trả lời “Tự nhiên mà có” thì khác nào không tìm được câu trả lời!
Thế là dẫu “hồ hởi” với giả thuyết “tiệm tiến đổi thay và phát triển” này cách mấy đi nữa, người ta cũng vẫn phải hiểu ngầm có một THƯỢNG TRÍ cao siêu nào đó, đã có trước và ở trên vạn vật.
Người vô thần, khi lần đầu phóng phi thuyền lên không gian, đã huênh hoang tuyên bố rằng dù đã lên tới chín tầng trời cũng chẳng gặp được bóng dáng Thượng Đế nào, nhưng quả thật họ đã để lộ cái chủ quan, ngu dốt của mình khi phải đề cập tới một Đấng Tạo Hóa siêu việt vô hình. Thượng Đế nào chỉ ngồi trên mấy tầng mây hay bơi lội trên đại dương ngàn dặm! Nhưng Thượng Đế nắm toàn thể vũ trụ trong lòng bàn tay.
Họ tố cáo tôn giáo là như thuốc phiện mê dân, nhưng rồi chính họ đã mê hoặc dân chúng khi đưa ra cái lý tưởng huyền hoặc xa vời. Thế là, thiếu tôn giáo, tất cả cuộc sống nhân loại như đi vào con lộ một chiều để dẫn vào chỗ bế tắc, cùng đường.
Tôn giáo, với ý niệm về một Đấng thiêng liêng cao cả, sẽ cho ta khả năng giải quyết được vô vàn thắc mắc. Sẽ giúp ta hiểu được nhiệm mầu diễn tiến hằng ngày trước mắt ta: Từ những diệu kỳ của trí óc, của con tim. Của những cảm xúc vui buồn yêu ghét. Của những động tác tinh vi nơi các bộ phận của cơ thể con người. Của những phản ứng lạ lùng do bản năng bẩm sinh nơi loài vật.
Tư tưởng về tôn giáo thường xâm chiếm hồn ta khi ngỡ ngàng trước cảnh núi đồi hùng vĩ hay sông hồ đại dương bát ngát. Tôn giáo cũng thôi thúc ta hướng lên một Vị Thiêng liêng cao cả khi ta ngồi nhìn hoàng hôn lúc chiều tà hay ngắm trăng lên giữa đêm khuya. Bởi vì khi ngây ngất trước những vẻ đẹp kỳ diệu đó của thiên nhiên, tâm tư ta thường hay tự hỏi: Đâu là nhà nghệ sĩ, nhà kiến trúc đại tài đến thế?
Rồi nữa, Thượng Đế cũng hiện diện trong hồn ta qua những phán quyết và cảm nghĩ của lương tâm. Những nẽo đi thầm kín đâu đó dẫn ta về một nền luân lý ẩn hiện và réo gọi đêm ngày. Này Trách nhiệm. Này Tự do. Mỗi ý niệm khơi lên bóng dáng của một HỒN THIÊNG tiềm tàng lúc nào cũng móc nối tương giao với một Đấng Thượng Đế Chí Tôn.
Ta ở đâu tới? Rồi ta sẽ về đâu? Từng câu hỏi mãi dằn vặt tâm tư cùng với cái ý nghĩ của một nền công lý tuyệt hảo, của chuyện thưởng phạt phân minh tối hậu. Lẽ nào chết lại là hết, là chấm dứt mọi sự! Và, bắt buộc phải có một chân lý đang chờ đợi cuối đường.
Thứ Bảy, 12 tháng 10, 2013
Chuyến Đi Bác Ái của CBMCG xứ An Lạc
Chuyến đi bác ái tại Bảo Lộc của các bà mẹ công giáo xứ An Lạc ngày 10/09 với sự chuẩn bị trước 6 giờ 45 các chị đã chuyển các thùng quà đến điểm tập trung để đưa lên xe và khởi hành lúc 7 giờ. cùng một chuyến đi trước đó có thêm một xe du lịch loại 16 chỗ chở soeur Tổng đại diện và các tu sinh của tu hội Nô Tỳ Thiên Chúa tại nhà mẹ Gx An Lạc đi trước.
Lên xe mỗi người được khai báo tên của mình để bác tài lập danh sách, có tất cả 29 người trừ bác tài và một anh chồng chị hội phó, một thành viên truyền thông, hai souer, còn lại các bà và các chị là hội viên, đặc biệt cùng đi lần này còn có 3 chị là người không cùng tôn giáo cũng tham dự.
Xe chạy chị phụ trách đã trao cho mỗi người một ổ bánh mì và một chai nước suối là phần ăn sáng, ra tới xa lộ chị trưởng hội thông báo với mọi người về chuyến đi sau đó mọi người cùng cầu nguyện cho chuyến đi được bằng an.
Để bầu khí trên xe thêm phần vui vẻ các chị cũng giúp vui bằng những bài hát nhạc đạo, riêng các chị ngoại giáo cùng đồng hành cũng ngâm nga mấy câu vọng cổ dân gian miền nam cho khỏi buồn ngủ. 9 giờ 30 đến trạm dừng chân Huyền Hậu thống nhất Đồng Nai đoàn xuống nghỉ chân 15 phút rồi tiếp tục lên xe đi, xuốt chặng đường trời mưa liên tục cho tới đèo Bảo Lộc, tiết trời mát lạnh, trời tạnh nhưng sương mù nhiều xe phải chạy chậm, quá 12 giờ mọi người cảm thấy đói bụng mong mau đến nơi.
12 giờ 30 xe qua đèo đổ dốc bác tài phải hãm phanh vì đường trơn trợt, hết đoạn dốc xe chạy nhanh hơn nhưng vẫn còn nhiều đoạn đường xấu, gần 1 giờ trưa thì đoàn đến nơi được quý xơ tại cơ sở Nô Tỳ Thiên Chúa thuộc giáo xứ Tân Bùi do Cha chánh xứ Giuse Nguyễn Đức Cường và Cha phụ tá Lorenso Trần Ngọc Toàn quản trách, tại thôn Tân Châu, xã Lộc Châu, thị xã Bảo Lộc, được đón tiếp và hướng dẫn của soeur phụ trách cơ sở Maria Nguyễn Thị Nga mọi người đã ổn định nơi nghỉ ngơi, các xơ cũng đã chuẩn bị bữa ăn trưa trước đó để đến nơi đoàn dùng cơm nghỉ một chút là chuẩn bị phát quà.
15 giờ như đã được báo các anh phụ trách các thôn trong họ đạo người dân tộc Châu Mạ làng Đại Nghịch, đã mang theo gùi đến để đựng các phần quà, những gói quà đã được gói sẵn để chia cho từng nhóm mang đi với 150 phần. Mỗi phần gồm có: 20 gói mì, 2 chai dầu ăn, 1 kg đường, nửa kg bột ngọt, 2 hộp cá, 1 bịch xà bông, trị giá mỗi phần 150 ngàn đồng, ngoài ra còn có 150 cây viết,150 cục xà bông, 100 cỗ tràng hạt, 500 bánh trung thu và lồng đèn tổng trị giá khoảng 30.000.000 đồng. Để tiện cho việc trao quà đến với các gia đình có hoàn cảnh khó khăn không phân biệt tôn giáo ở thôn, làng, và có người mang quà các xơ và các chị hội viên chia thành 9 nhóm đi cùng với các anh Châu Mạ, theo chân các anh qua những con đường đất đỏ lầy lội, lên xuống dốc, băng qua nương rẫy để đến những gia đình trong làng gởi đến những món quà nhỏ nhoi, nhưng đầy tình yêu thương của những tấm lòng quảng đại, luôn sẵn sàng sẻ chia cùng đồng loại, như lời Chúa!
“ Ai có hai áo hãy cho người không có, Ai có của ăn cũng hãy làm như vậy”.
Trở lại cơ sở sau khi trao quà các chị lại chuẩn bị cho đêm hội trăng rằm cho các em thiếu nhi có một đêm vui tết trung thu, các chị em tu sinh phải tổng dợt các tiết mục và sắp xếp chỗ ngồi, dụng cụ, trang trí, dán các lồng đèn và cả lo cho bữa cơm chiều cho cả đoàn, tất bật, lo lắng cho công việc nhưng chị em vẫn luôn vui tươi phục vụ.
Buổi chiều một số các bà vào nhà nguyện tại cơ sở để cầu nguyện sau đó mọi người dùng cơm đến 6 giờ chiều trời đổ mưa lớn, trời tối như đêm 30 nhưng các em thiếu nhi được gia đình đưa đến mỗi lúc một đông ngồi chật cả khoảng sân của cơ sở tu hội. 7 giờ khai mạc chương trình đêm hội trăng rằm được souer Huệ tổng đại diện tu hội tuyên bố, sau phần tuyên bố đến các tiết mục trình diễn như múa lân của các em thiếu nhi dân tộc, để thêm phần phấn khích cho các em trong lúc xem, các chị đã phát cho các em bánh kẹo và lồng đèn, cầm trên tay những chiếc lồng đèn xinh xắn với những gương mặt ngây thơ hồn nhiên đêm nay mà chạnh lòng, suốt chương trình xen lẫn các vũ điệu, hát, múa, ảo thuật của chị em tu sinh, các bà mẹ công giáo, thanh thiếu niên dân tộc tự sáng tác đã đem lại một đêm hội tràn đầy yêu thương, kết thúc chương trình đại diện cho làng Đại Nghịch chị Kalíp dân tộc Châu Mạ lên cảm ơn bằng cả hai thứ tiếng dân tộc, tiếng việt thật thân thương, chia tay với bà con bản làng các bà các chị cũng trao tặng mỗi người một cái bánh trung thu bé nhỏ nhưng nghĩa tình.
Sáng hôm sau 4 giờ sáng mọi người đều thức dậy để đi nhà thờ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp cách cơ sở chừng hơn một cây số, xong lễ trở về cơ sở ăn sáng và chuẩn bị về TP thì Cha phụ tá giáo xứ cũng đến chia tay với đoàn với những cử chỉ thân thương và hẹn gặp lại, ra xe mọi người còn bịn rịn. Trên đường về đến đài Đức Mẹ trên đèo Bảo Lộc đoàn cũng viếng Mẹ để dâng lời tạ ơn và cầu bình an, về đến Phương Lâm đoàn cũng ghé thăm mộ Cha cố Tiên khởi Gx. An Lạc Gioan Bt Trần Ngũ Nhạc trong cơ sở 2 tu hôi Nô Tỳ Thiên Chúa và ăn cơm trưa tại đấy sau đó viếng Đức Mẹ Bạch Lâm và trở về Tp.
Điểm qua cơ sở tu hội Nô Tỳ Thiên Chúa
Tu hội Nô Tỳ Thiên Chúa đã hiện diện tại Giáo xứ Tân Bùi trên địa bàn Giáo họ Mẹ Hằng Cứu Giúp từ ngày 13/07/2000. Nhân sự: gồm 6 chị em phục vụ trong điểm truyền giáo này.
Trong những ngày tháng mới mẻ này, chị em sống rất thầm lặng, nhỏ bé, dưới sự hướng dẫn dìu dắt từng bước của Cha cố Phêrô Hoàng Ngọc Dao.
Ngày 28.10.2000, được sự động viên khích lệ, chị em đã âm thầm mở lớp học tình thương để chăm lo cho các em dân tộc đủ mọi độ tuổi, từ 5,6 tuổi đến 20 tuổi. Lớp học này sĩ số ngày một gia tăng, duy trì được đến năm 2004. Sau khi Phòng Giáo dục Thị xã Bảo Lộc mở lớp, chị em đã chuyển các cháu vào trường lớp của Phòng.
Ngày 26.05.2004, chị em mở lớp dạy đan miễn phí cho các em nghèo. Chị em còn chăm sóc đặc biệt miễn phí cho một số em tuổi mẫu giáo từ năm 2000 đến nay. Năm 2005, quý Cha đã giao cho chị em phụ trách lớp Kinh Thánh của các em dân tộc. Chị em cũng đã giúp đỡ Giáo họ Phao lô và tham gia vào ca đoàn của Giáo họ này.
Và những lời cầu nguyện mà các chị hằng dâng cho Chúa. “Cùng Mẹ Maria trên đường dấn thân truyền giáo, với chuỗi Mân Côi chúng con bước vào cuộc sống mới. Lời mời gọi của Chúa : “ Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo”.”(Mc 16,15).
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)





